Ảnh Chân-Dung Nghệ-Thuật

posted Jul 17, 2010, 10:29 AM by Ly Vuong   [ updated Jul 17, 2010, 10:39 AM ]

Ảnh Chân-Dung Nghệ-Thuật
Lê-Ngọc-MINH


Ảnh chân-dung là một trong vài đề-tài "lớn" của nhiếp-ảnh. Ta có thể hiểu chữ lớn này theo nhiều nghĩa.

Trước hết là ảnh chân-dung rất đại-chúng. Có thể nói là không ai trong chúng ta là không có ảnh chân-dung, ít hoặc nhiều, dù bị hay được chụp... từ trẻ, tới trung-niên, tới già... qua từng ấy giai-đoạn của cuộc đời, biết bao nhiêu là ảnh, từ những tấm ảnh chỉ có đầu và vai (trong đó phải kể đến tấm ảnh mà không mấy ai ưa thích, là tấm ảnh căn-cước), đến tấm ảnh bán-thân, toàn-thân một người, toàn-thân vài ba người hay chỉ một phần khuôn mặt... hết thảy đều là ảnh chân-dung.

Thứ đến là số người chụp chân-dung quá nhiều, mà ta có thể chia ra thành nhiều giới : giới nhà nghề, mở tiệm, chụp ảnh chân-dung như một phương-tiện sinh-nhai; giới tài-tử, mà giới này lại đông hơn cả, thường đem vợ chồng con cái ra trước cửa hay sau nhà, "bấm vài tấm"; cũng được kể là nhiếp-ảnh-gia chân-dung những người chụp ảnh chân-dung các nhân-vật của quần-chúng để làm bìa báo, bìa băng nhạc, hoặc in kèm theo tin-tức... Và một giới khác, giới này ít hơn cả, coi việc chụp ảnh chân-dung như một công-trình sáng-tác nghệ-thuật, mà công việc của họ chính là đối-tượng của bài này.

Sau nữa là ảnh chân-dung rất đa-dạng. Ða-dạng vì công-dụng của ảnh chân-dung rất khác biệt, mà ta có thể tạm chia thành nhóm như :

­ Chân-dung kỷ-niệm : ghi lại một kiểu trang-điểm dung-mạo, tóc, y-phục, tuổi tác, vóc dáng... hoặc trong một chuyến du-lịch... hoặc ghi dấu một buổi họp mặt giữa hai hoặc nhiều người... một dịp vui, buồn...

­ Chân-dung tài-liệu : ghi lại dung-mạo với mục-đích xác-định cá-nhân (như chân-dung căn-cước, thông-hành, tội-phạm...), ghi lại đặc-tính nhân-chủng (sắc-dân ở vùng này, nước nọ...), ghi lại một giai-đoạn sống (thời kinh-tế khủng-khoảng, trại tị-nạn, trại tập-trung, sinh-hoạt cộng-đồng...).

­ Chân-dung mỹ-thuật : ghi lại khuôn mặt sao cho đẹp (chân-dung ở một số tiệm, có sửa phim và ảnh, sao cho khách hàng tươi tắn, trẻ và đẹp hơn và cũng không nhất-thiết phải giống khách hàng...), chân-dung quảng-cáo (trang-phục, trang-điểm... khác nhau), chân-dung "gợi-tình" (lãng-mạn, đỏm dáng, gợi cảm...).

­ Và sau hết là chân-dung nghệ-thuật.

Vậy chân-dung nghệ-thuật là gì ?


A. YẾU-TỐ CẤU-TẠO ẢNH CHÂN-DUNG NGHỆ-THUẬT.

Chưa có ai định-nghĩa thế nào là ảnh chân-dung nghệ-thuật và cũng để tránh các tranh-luận có thể có về định-nghĩa, ta thử xem qua một số ảnh được gọi là chân-dung nghệ-thuật của một số nhiếp-ảnh-gia nổi tiếng chuyên về chân-dung của thế-giới chụp, hầu có thể rút tỉa ra một số yếu-tố mà ta tạm gọi là những yếu-tố cấu-tạo nên ảnh chân-dung nghệ-thuật.

Trước hết, ảnh chân-dung nghệ-thuật biểu-lộ cái nét đặc-thù, hay nói một cách khác, biểu-lộ cái nét, cái dáng của nhân-vật đó, nét và dáng đó chỉ có ở nhân-vật đó, mà không giống một nhân-vật nào khác. Nét đặc-thù này cũng còn được gọi là "chân-dung nói", là những điểm mà ta dùng để mô-tả nhân-vật thứ ba, như cụ Nguyễn-Du tả Thúy-Vân :

"Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang..."

hay tả Từ-Hải :

"Râu hùm, hàm én, mày ngài..."

đó cũng là nét mà các họa-sĩ hoạt-kê dùng để hí-họa những nhân-vật văn-nghệ hay chính-trị.

Ảnh chân-dung nghệ-thuật cũng biểu-lộ tinh-thần của nhân-vật chủ-đề. Tinh-thần đó, có thể nói không một ai giống ai, không phải lúc nào cũng "bộc-lộ", không phải ai muốn ghi vào phim ảnh lúc nào cũng được... Người ảnh nghệ-thuật phải làm sao ghi được tinh-thần tiêu-biểu nhất của chủ-đề để ghi chép lên ảnh, để khi khách thưởng-lãm nhìn vào, thấy, như quen thuộc ngay với nhân-vật chủ-đề ấy. Cái thấy và quen thuộc đó thể-hiện đến độ cả người quen lẫn người không quen với nhân-vật chủ-đề cũng cảm-thông được, bỗng nhiên thấy gần gũi và thân-mật, bồi hồi như đã gặp, đã nhìn thấy từ lâu rồi...

Ảnh chân-dung nghệ-thuật, không ít thì nhiều, phải diễn-tả được cái "nghề" hoặc "nghiệp" của nhân-vật chủ-đề. Một số nhiếp-ảnh-gia thường dùng bối-cảnh có liên-quan đến môi-trường sinh-hoạt của chủ-đề để nói lên khía cạnh nghề-nghiệp đó, thí-dụ họa-sĩ đứng bên giá vẽ, bức tranh, cọ, màu... nhạc-sĩ dùng hoặc ngồi gần nhạc cụ, giá nhạc... giáo-sư giảng bài trên giảng đường, đứng bên bảng đen v.v...

Ảnh chân-dung nghệ-thuật, ít nhiều cũng phải phản-ảnh được cái lối sống của nhân-vật chủ-đề, thể-hiện phần nào trong bối-cảnh hoặc phục-sức, trang-điểm... Lối sống đó cũng thể-hiện phần nào lên khuôn mặt như vui vẻ, xuề xoà hoặc kiểu cách bóng bẩy, khắc khổ, trang nghiêm hoặc lầm lì, suy nghĩ...

Ảnh chân-dung nghệ-thuật không thực-hiện theo trào-lưu, theo thị-hiếu hoặc theo chỉ-thị, theo yêu cầu sửa đổi của bất cứ ai và không chủ-trương ghi mốc thời-gian.

Ảnh chân-dung nghệ-thuật cũng phải thể-hiện tính cách không tàn-phai của nó. Từ nhiếp-ảnh-gia đến nhân-vật chủ-đề đều cảm thấy tính "bất-tử" của tác-phẩm, dù nhìn bây giờ hoặc 5 năm, 10 năm hoặc hai ba chục năm sau cũng vẫn thấy tấm ảnh mặn mà quyến rũ... càng nhìn càng như khám phá ra một cái gì quen thuộc bàng bạc, tiềm-ẩn đâu đây mà hình như lần trước mình chưa khám phá thấy.

Và sau hết, ảnh chân-dung nghệ-thuật phải thể-hiện phần kỹ-thuật cao-độ của người cầm máy, như ánh sáng, bố-cục, bối-cảnh, mảng sáng, mảng tối, mảng màu sắc, góc cạnh thu hình, kỹ-thuật chụp và phóng ảnh...

Trên đây là một số mẫu-số-chung mà ta rút tỉa được từ các ảnh chân-dung của các nhiếp-ảnh-gia chuyên chụp chân-dung nghệ-thuật nổi tiếng. Muốn thực-hiện một tác-phẩm chân-dung sao cho thỏa-đáng các điều kể trên, ta thấy ngay là không giản-dị. Không giản-dị, vì trước hết, nhiếp-ảnh-gia, ngoài phần kỹ-thuật cao-độ như vừa kể trên, còn phải có yếu-tố tình-cảm và linh-cảm bén nhạy và óc phán-đoán tinh-tường về đủ mọi khía cạnh liên-quan đến nhân-vật chủ-đề, đồng-thời phải phác-họa ngay một mô-thức thực-hiện, mô-thức đó chúng ta sẽ đi vào chi-tiết sau. Cũng không giản-dị, vì ngoài nhiếp-ảnh-gia ra, còn một nhân-vật nữa mà sự thành hay bại của tác-phẩm ít ra cũng 50% tùy thuộc vào, đó là nhân-vật chủ-đề. Vì vậy giữa nhiếp-ảnh-gia và chủ-đề phải có sự thông-cảm và hợp-tác hoàn-toàn hầu tạo nên một tác-phẩm xứng đáng gọi là một tác-phẩm chân-dung nghệ-thuật.

 

B. MÔ-THỨC THỰC-HIỆN.

1. THỜI-GIAN THU HÌNH.

Thời-gian cần thiết và thuận-tiện cho việc thu hình có thể kéo dài ít nhất là một hai giờ tới nửa buổi, vào một ngày mà cả nhiếp-ảnh-gia lẫn nhân-vật chủ-đề đều rảnh rang, thoải mái. Tất cả những gì thôi-thúc về thời-gian, không-gian, hành-động... đều là kẻ thù của thoải mái và chắc chắn không giúp ích chút nào cho việc thu hình. Thời-gian là yếu-tố cần thiết. Nếu một trong hai người buộc phải đóng khung việc thu hình trong khoảng thời-gian nào đó, thấp-thỏm chờ cho chóng xong... thì đó là triệu-chứng của một tấm ảnh chân-dung "gượng", tốt hơn là đừng chụp mà chờ một dịp khác.


2. TRANG-PHỤC.

Nhân-vật chính của chân-dung, hoặc chủ-đề, phải trang-phục, xuất-hiện cách nào cho bình thường, thoải mái, quen thuộc... Không phải vì chụp ảnh mà ta đi hớt tóc, mày râu nhẵn nhụi, mặc bộ-đồ-lớn-ba-mảnh... cũng không phải vì chụp ảnh mà ta đi làm tóc cầu-kỳ, trang-điểm lộng-lẫy như đi lĩnh giải Oscar... tóm lại là trang-phục nên chuẩn-bị sao cho ta đừng khác hình ảnh thường ngày mà thân-hữu hằng quen thuộc.

Hình ảnh một bác-sĩ choàng áo blouse lụng-thụng, ống nghe móc quanh cổ, trông trung-thực và thân-mật hơn hình ảnh cũng của vị đó trong bộ đồ lớn cắt đúng mốt... Một nhà văn xuề xòa trong chiếc áo len hở cổ trông giản-dị và thân-mật hơn vị đó trong trang-phục trịnh-trọng và tươm-tất.

Nhiếp-ảnh-gia nên thảo-luận cùng người mẫu về kiểu, loại y-phục, trang-sức và dự-tính thực-hiện của mình để hai bên đều có ý-tưởng và thì giờ chuẩn-bị cho buổi thu hình.


3. ÐỊA-ÐIỂM THU HÌNH.

Ta cần đặt điều-kiện này vào đúng vị-trí của nó. Không hẳn địa điểm nào ta cũng thu hình được, nhưng cũng không hẳn không có địa điểm nào mà ta thu hình không được. Tùy theo loại bối-cảnh của tấm ảnh chân-dung mà ta chọn được địa-điểm thu hình.

Muốn thu hình một phi-công phản-lực F-5 với đầy đủ đồ bay và nón bay mà bối-cảnh là một phần chiếc F-5 thì địa-điểm tất-nhiên phải là bãi đậu phi-cơ F-5 (trong ảnh chân-dung nghệ-thuật, ta không dùng kỹ-thuật ghép hình hay chiếu hình, gọi là front hay rear projection). Chân-dung một nhạc-sĩ dương-cầm thì không nhất-thiết (xin nhắc lại, không nhất thiết) là phải ở trên sân khấu, đang mê mải thả hồn theo nốt nhạc trước 4 200 thính-giả.

Có những ảnh nghệ-thuật, bối-cảnh chỉ là một nền đen hoặc xám, hoặc lờ mờ ẩn hiện một phần bức tranh, một góc tủ sách... và những địa-điểm này tương-đối dễ tìm; dễ tìm nhưng không phải đã là dễ chụp. Ðịa-điểm dễ chụp nhất là địa-điểm làm cho hai người, người ảnh cũng như người mẫu, thoải mái nhất; ít ra cũng phải là cho người mẫu thoải mái và do đó, địa-điểm lý-tưởng nhất là nơi người mẫu quen thuộc nhất, như nhà riêng, địa-điểm hành nghề hoặc một nơi nào khác mà người mẫu cảm thấy thoải mái nhất.

 


4. BỐI-CẢNH.

Bối-cảnh trong ảnh chân-dung nghệ-thuật, như trên đã đề-cập, không ít thì nhiều, phải diễn-tả được cái môi-trường hoạt-động hoặc nghề nghiệp của nhân-vật chủ-đề. Bối-cảnh không hẳn chỉ cho ta một cái cảnh thuần-túy, mà bối-cảnh còn giúp ta tạo "hồn" cho tác-phẩm. Người ta thường dùng bối-cảnh có liên-quan đến môi-trường sinh-hoạt của chủ-đề để nói lên nghề nghiệp đó. Tuy nhiên, không phải tác-phẩm chân-dung thành-công nào cũng "phải" hoặc "nên" thực-hiện theo công-thức đó.

Tấm ảnh chân-dung của Albert Einstein do Philippe Halsman chụp làm bìa báo Life, thành-công đến nỗi được in thành bích-chương, thành bưu-thiếp, thành tem, in trong không biết bao nhiêu sách, báo... tuy không có bối-cảnh của chai, lọ của phòng thí-nghiệm, cũng không có vệ-tinh, hoả-tiễn, nguyên-tử, không-gian, nhưng trên vầng trán đăm-chiêu, nhăn nheo, dưới mái tóc bù xù đó, ai cũng như mường-tượng thấy ẩn hiện đâu đây vẻ thông-thái, xuề xòa, dễ mến của nhà bác-học...

Tấm ảnh chân-dung chụp bác nông-phu vẻ mặt cũng đăm chiêu, cũng nhăn nheo, đầu tóc cũng bù xù... nhưng làn da xạm nắng, đôi mắt tinh-anh, lì lợm... cho ta thấy ngay hình ảnh của một nông-dân chân lấm tay bùn, sống chết với đồng ruộng của ông cha, lòng chùng xuống vì thiên-tai địch họa, vì gạo châu củi quế, vì hộ-khẩu khó khăn, vì công-trình thủy-lợi bỗng trở thành thủy-hại... hình ảnh này không giống hình ảnh của Einstein.


5. VẤN-ÐỀ TỰ-NHIÊN TRONG ẢNH.

Ai cũng muốn trông tự-nhiên trong ảnh, nhưng nói thì dễ mà thực-hành thì không. Kinh-nghiệm bản-thân cho thấy, dù là với các ca, kịch sĩ, tài-tử điện ảnh, vốn là những nhân-vật của quần-chúng, đã quá quen thuộc với ống kính, kể cả các nhiếp-ảnh-gia, mỗi khi thấy có ống kính chiếu về phía mình thì ai nấy cũng không ít thì nhiều, cảm thấy kém tự-nhiên. Yousuf Karsh kể lại chuyện ông chụp chân-dung tổng-thống Kennedy, nhân-vật quyền-uy bậc nhất thế-giới, trước ống kính của ông, cũng tỏ ra bồn-chồn, thiếu tự-nhiên thấy rõ, khiến Karsh không thu hình được ở góc cạnh như ông dự-tính, đành phải để ông Kennedy xoay ngang, nhìn về hướng khác cho ông bớt bối, rối rồi mới thu hình được.

Thành ra tự-nhiên trong nhiếp-ảnh trở thành một vấn-đề mà cả hai bên đều phải làm sao khắc-chế cho bằng được, vì nếu không thì không cách nào ta có tấm ảnh chân-dung thành-công được. Có vài cách thông thường để tạo không-khí tự nhiên, thí-dụ như đối-thoại về một đề-tài gì, thưởng-thức một đĩa nhạc trong khi thu hình... kể cả việc nhiếp-ảnh-gia, nếu cần, chụp một hoặc hai cuộn phim (sau đó không dùng, hoặc có khi chụp không phim) cũng không ngoài mục-đích làm cho đôi bên đi đến chỗ quen thuộc, thông-cảm hoặc quên đi sự hiện-diện của chiếc máy ảnh. Cũng trong chiều-hướng tự-nhiên và tạo tự-nhiên trong ảnh, hai bên nên thảo-luận về dự-tính thực-hiện tấm ảnh trước khi lấy hẹn, để mỗi bên đều thấu-đáo vai trò của mình hầu khi bắt tay vào việc, không ai còn bỡ ngỡ...


6. LÀM QUEN VỚI ẢNH CHÂN-DUNG NGHỆ-THUẬT.

Một trong những vấn-đề mà nhiếp-ảnh-gia cần phải trình bày, thảo-luận trước với nhân-vật chủ-đề là sự khác biệt giữa ảnh chân-dung nghệ-thuật với ảnh chân-dung mỹ-thuật, vì đa số người Việt chúng ta quen thuộc với loại chân-dung thứ nhì mà không quen thuộc lắm với loại chân-dung thứ nhất. Sự khác biệt, theo kinh-nghiệm riêng, thường làm nhân-vật chủ-đề ngạc-nhiên, có khi đến sửng sốt hoặc thất-vọng... Cũng chẳng trách ai được, lý-do thường là quần-chúng quá quen thuộc với loại ảnh chân-dung mỹ-thuật chụp ở tiệm, ánh sáng đều đặn, phim và ảnh đều được sửa chữa cho thật nhẵn nhụi, nếu là nữ giới, được tô thêm môi son, má hồng, vẽ lông nheo dài và cong... trông thật là "đẹp", họ tưởng vậy. Vả lại trong cả cuộc đời họ, họ đã được nhìn thấy tấm ảnh chân-dung nghệ-thuật nào chưa ? Ai chụp ? Trong cộng-đồng chúng ta, đã có mấy người được coi như là nhiếp-ảnh-gia chân-dung nghệ-thuật (với tất cả ý-nghĩa trang-trọng của nó) ?

Ảnh chân-dung nghệ-thuật có thể là ảnh đen trắng, có thể có sắc-độ đậm (người không quen, gọi là "tối tăm"), với những chi-tiết trên da, trên mặt (như nét thời-gian, nét cá-tính, cá biệt...), chỉ cần một trong những lý-do kể trên cũng đủ làm cho nhân-vật chủ-đề không thoải mái, khó chấp-nhận, ít ra cũng là trong một khoảng thời-gian nào đó. Cũng theo kinh-nghiệm riêng, chúng tôi nhận thấy văn-nghệ-sĩ hoặc những người có nghệ-sĩ-tính đón nhận ảnh chân-dung nghệ-thuật cởi mở, dễ dàng hơn và nam giới hưởng-ứng nhiệt-tình hơn nữ giới.

 

C. CHUẨN-BỊ THU HÌNH

Sau đây là một số yếu-tố kỹ-thuật mà một số nhiếp-ảnh-gia thường quan-tâm.


1. ÐÓNG KHUNG.

Ðóng khung tấm ảnh chân-dung là khi ta quyết-định trình bày nhân-vật chủ-đề cả người, nửa người, đầu và vai, khuôn mặt hoặc chỉ một phần khuôn mặt. Do ảnh-hưởng của ảnh căn-cước hoặc một thói quen tai hại nào đó, một số người chỉ coi tấm ảnh chụp đầu và vai là ảnh chân-dung. Nhưng ảnh chân-dung không hẳn chỉ có như vậy. Nó tùy thuộc ở quyết-định của nhiếp-ảnh-gia muốn trình bày nhân-vật chủ-đề dưới cảnh-huống nào, dưới điều-kiện nào, dưới bối-cảnh nào... Nếu một phần khuôn mặt đã đủ bộc-lộ nhân-vật chủ-đề thì ta đâu cần đóng khung lớn hơn, nhưng nếu ta cần trình bày cả môi-trường hoạt-động hoặc sinh sống của nhân-vật chủ-đề hầu đem lại ý nghĩa toàn-bích cho tác-phẩm thì ta cứ việc đóng khung lớn hơn, nửa người, toàn thân hay cả một góc xưởng vẽ, nơi họa-sĩ đang làm việc, hay góc phòng thí-nghiệm, đầy chai, lọ, bảng, phấn... nơi nhà khoa-học đang tìm tòi, khảo-cứu...


2. ẢNH MÀU, ÐEN TRẮNG.

Ảnh chân-dung nghệ-thuật không đòi hỏi ta phải dùng loại phim này hoặc loại phim nọ, sự lựa chọn có thể do sở-thích của nhiếp-ảnh-gia muốn trình bày nhân-vật chủ-đề dưới ý nghĩa, dưới khía-cạnh nào, sao cho nổi ra được nét đặc-thù của chủ-đề. Một số người cho rằng ảnh màu có thể làm cho khách thưởng-lãm bị chia trí khi thưởng-thức, không như ảnh đen trắng, vốn chỉ có trắng, đen và xám nên khiến khách thưởng-lãm chú-tâm vào hình ảnh và nội-dung hơn.


3. SẮC-ÐỘ ÐẬM, SẮC-ÐỘ NHẸ.

Sắc-độ đậm thể-hiện tính cách trịnh-trọng, nghiêm-trang, suy-tư, buồn thảm, chịu đựng... còn sắc-độ nhẹ thể-hiện tính nhẹ nhàng, thanh-khiết, ngây thơ, vui vẻ, xuề xòa... Dùng sắc-độ nào cũng lại tùy thuộc vào ý nghĩa của tác-phẩm, sao cho nổi được cá-tính của chủ-đề.

Một thiền-sư đang bình-thản tham-thiền nhập-định, điệu-thế trang-nghiêm thoát tục có vẻ thích-hợp với loại sắc-độ đậm hơn; nhưng một em bé, rãi lòng thòng bên má, dương cặp mắt nai tơ nhìn về phía ống kính thì tấm ảnh này có thể thực-hiện với sắc-độ nhẹ.


4. CÁI BẤM ÐÚNG LÚC.

Ðiều này tùy thuộc nhiều yếu-tố, mà yếu-tố chính là khi nhân-vật chủ-đề có tinh-thần ở giây phút xuất-thần nhất và thể-xác ở vị-trí biểu-lộ cá-tính nhất; khi hai điều này cùng xẩy ra một lượt thì đây là phút giao-cảm tuyệt-vời giữa hồn và xác của chủ-đề, ta phải làm sao thu được cái khoảnh-khắc ngắn ngủi này bằng một thế bấm đúng lúc.

Khoảnh-khắc này là lúc mà nhà toán-học đang chăm chú say mê giải bài toán kỳ-thú lạ lùng, đất có nứt ra dưới chân cũng chẳng màng... Khoảnh-khắc này cũng là lúc mà bác thợ trạm đang dồn hết tâm-trí vào một đường trạm tuyệt-vời... hay khoảnh-khắc lặng hồn say đắm của chàng kịch-sĩ... Bấm được đúng vào cái giây phút đó thì ta có được cái bấm thành-công. Trước đó và sau đó, có chụp bao nhiêu tấm đi nữa thì đa số những ảnh này cũng chỉ là một gượng ép, chán chường mà thôi.


5. CỠ PHIM SỬ-DỤNG.

Với sự tiến-bộ của hóa-chất và quang-học, phim, giấy, máy ảnh, ống kính của máy ảnh 35mm ngày nay đều có khả-năng thu hình một cách trung-thực, có phẩm-chất khá. Dĩ nhiên cỡ phim càng lớn thì phẩm-chất hình ảnh càng gia-tăng, nhưng phim lớn lại đi đôi với máy lớn, mà máy lớn thì cồng kềnh, nặng nề, di-chuyển khó khăn, đắt tiền... muốn chụp được tấm ảnh phải mất nhiều thời giờ chuẩn-bị, do đó không thể so sánh với máy 35mm về phương-diện nhanh nhẹn, có khả-năng thu hình chớp nhoáng.

Tuy vậy, hai cỡ phim thông-dụng hơn cả vẫn là phim cỡ nhỏ 35mm và phim cỡ trung 6 x 6cm.


6. ỐNG KÍNH CHÂN-DUNG.

Với loại chân-dung chụp đầu và vai hoặc một phần khuôn mặt, thích-hợp nhất là ống-kính có tiêu-cự từ 85 tới 135mm đối với máy 35mm, tiêu-cự từ 135 tới 200mm đối với máy cỡ trung.

Với loại chân-dung nửa người hoặc cả người thì ống kính cơ-bản thích-hợp hơn cả; tiêu-cự khoảng 40 đến 55mm đối với máy 35mm, tiêu-cự từ 75 tới 120mm đối với máy cỡ trung.

Với loại chân-dung bao-hàm toàn-thân chủ-đề, gồm cả bối-cảnh (một phần xưởng vẽ, một góc phòng thí-nghiệm, một phần sân khấu...) thì ống kính tầm rộng có vẻ thích-hợp hơn cả, đặc-biệt là những nơi chật hẹp, ta không còn chỗ để lùi. Ðối với máy 35mm, ống kính có tiêu-cự từ 28 tới 35mm, đối với máy cỡ trung, tiêu-cự từ 40 tới 60mm.


7. PHIM NHANH HAY CHẬM.

Nên đem theo vài loại phim nhanh, chậm và về số-lượng, nên đem theo nhiều hơn nhu-cầu.

Phim nhanh (320 ISO trở lên) có thể thu hình được trong hoàn cảnh hơi thiếu sáng, nhưng khi phóng lớn, ảnh có nhiều hạt (có người gọi là đổ hạt hoặc nổi hạt; về vấn-đề hạt trong ảnh, có người thích, có người không...).

Phim chậm (64 ISO trở xuống) tuy mịn hạt hơn nhưng lại không tiện thu hình ở những nơi tranh tối tranh sáng (nhiều khi cần thiết, để giữ vẻ tự nhiên trong ảnh chân-dung nghệ-thuật).

Phim trung-bình (từ 80 đến 250 ISO) phối-hợp đặc-tính của cả hai loại phim kể trên : mịn hạt, khá nhanh, thích-hợp với một số hoàn-cảnh trong và ngoài nhà, có thể dùng như một loại phim "chụp mọi hoàn-cảnh".


8. ÁNH SÁNG.

Ðây là yếu-tố giữ vai trò quan-trọng trong việc thành hay bại của ảnh chân-dung nghệ-thuật. Vì tính cách quan-trọng của nó, xin độc-giả xem lại bài "Ánh sáng trong nhiếp-ảnh" và "Chân-dung ngoài trời" của củng tác-giả. Ðoạn này chỉ có dụng-ý bổ-túc cho những điểm đã nêu ở hai bài trên.

Ta đều biết rằng ánh sáng thay đổi hình-thể của khuôn mặt và cũng chính ánh sáng làm tăng hoặc giảm chi-tiết trên lớp da mặt, tùy cách dùng ánh sáng. Dùng ánh sáng cho đúng chỗ, ta tạo hình-thể, tăng hoặc giảm chi-tiết trên khuôn mặt theo ý muốn, hoặc để sửa chữa khuyết-điểm, nếu có; hoặc trình ra các nét cá-biệt. Ta cũng phải biết đâu là giới-hạn của những chi-tiết và khuyết-điểm trên mặt để có thể trình bày hoặc không, với tất cả sự tế-nhị của người cầm máy.

Về trường-hợp ánh sáng giúp tạo nét cá-biệt, ánh sáng thuận có ý cởi mở, bộc-trực... ánh sáng ngược có ý bí-hiểm, trang-nghiêm... ánh sáng dịu tạo nhu-mì, duyên-dáng... ánh sáng tương-phản tạo ý-tưởng lạnh lùng, sát phạt... Ánh sáng thuận, dịu thường đi đôi với sắc-độ nhẹ và ánh sáng tương-phản thường "nên" đi với sắc-độ đậm.

Ta cũng có thể dùng tấm hắt sáng (có màu trắng hoặc màu mỡ gà) để hắt thêm sáng vào phía tối khuôn mặt, hoặc thêm chút ánh sáng phân-kỳ để làm giảm bớt vết nhăn trên khuôn mặt. Ta cũng có thể dùng tấm chận sáng (màu đen hoặc nâu đậm, xanh đậm…) chận bớt ánh sáng trộm, ánh sáng thừa mà ta không muốn để nó chiếu vào chủ-đề.


9. KÍNH LỌC.

Với ảnh đen trắng, nếu điều-kiện ánh sáng cho phép, dùng kính lọc màu lục hoặc kính lọc vàng-lục để giữ cho sắc-độ da mặt trung-thực hơn. Nắng chiều thường sẵn có nhiều màu vàng, do đó kính lọc vàng không cần thiết nữa, nên dùng kính lọc màu lục hoặc UV hoặc kính lọc phân-cực.

Với loại ảnh màu chụp trong nhà, nên lưu-tâm tới nhiệt-sắc để chữa áp-sắc, nếu cần. Chụp trong nhà hoặc trong bóng mát nên dùng kính lọc skylight để loại bớt màu xanh vốn tiềm-ẩn trong bóng mát.


10. GIẢM-THIỂU KHUYẾT-ÐIỂM TRÊN KHUÔN MẶT.

Một số khuyết-điểm trên khuôn mặt có thể sửa chữa hoặc giảm-thiểu được bằng cách tránh hoặc che dấu khi chụp, hoặc dùng ánh sáng né tránh đi. Xin xem lại bài "Chân-dung ngoài trời" của cùng tác-giả.

Muốn xoa dịu các vết thời-gian trên khuôn mặt, dùng kính mờ gắn trước ống kính, hoặc dùng ống kính chân-dung có chỉnh được độ mờ nét. Cũng nên xét tới yếu-tố có nên xóa mờ những nét thời-gian trên khuôn mặt hay không.

 

D. ÐIỂM QUA MỘT SỐ NHIẾP-ẢNH-GIA CHÂN-DUNG NGHỆ-THUẬT


PHẦN MỘT.

Có thể nói một cách không lầm lẫn, rằng không nhiếp-ảnh-gia nào mà không chụp ảnh chân-dung. Sang lãnh-vực ảnh chân-dung nghệ-thuật thì số-lượng đó giảm-thiểu mau lẹ. Những nhiếp-ảnh-gia chụp chân-dung nghệ-thuật nổi danh trên thế-giới không nhiều. Sau đây là những nhiếp-ảnh-gia nổi danh nhất :


1. YOUSUF KARSH.

Chuyên chụp chân-dung các chính-khách, nguyên-thủ quốc-gia, văn-nghệ-sĩ, họa-sĩ, điêu-khắc, tài-tử, ca nhạc-sĩ v.v... tóm lại là tất cả các nhân-vật nổi tiếng bất cứ về ngành hoặc bộ-môn nào, bất cứ biên-giới quốc-gia nào. Karsh dùng máy cỡ lớn 8"x10", đôi khi lớn hơn, chụp nhiều đèn, đa số chụp ngược sáng (thường là hai đèn ngược từ hai phía phải và trái chủ-đề, với một hoặc nhiều đèn mặt, dịu), bố-cục cổ-điển thật chặt chẽ, chủ-trương phô bày tất cả các vết nhăn trên khuôn mặt, bàn tay...

Karsh chụp nhiều tác-phẩm nổi danh, trong đó có tấm được nhiều người nói tới là tấm chụp Winston Churchill (1941) tại Canada sau một bài diễn-văn ở Thứ-Dân-Viện trong khi Anh-Quốc đơn-thương độc-mã đương đầu với Ðức-Quốc-Xã.


Sách tham-khảo : "Karsh, A Fifty-Year Retrospective", A New York Graphic Society Book, Little Brown and Company xuất-bản, 1983.


2. ARNOLD NEWMAN.

Cũng như Karsh, Newman chụp những nhân-vật nổi tiếng trong mọi sinh-hoạt công-cộng. Newman dùng máy 4x5, 8x10.., nhưng hồi gần đây có thấy dùng máy 35mm. Ðặc-điểm của ảnh chân-dung "kiểu Newman" là dùng ống kính tầm rộng, bối-cảnh là các thành-phần có liên-quan đến môi-trường sinh-hoạt của nhân-vật chủ-đề (nhạc-sĩ Stravinsky bên dương-cầm, Ben Gurion trước bản tuyên-ngôn độc-lập của Do-Thái...) và ánh sáng tương-phản. Hai tấm ảnh thường được nhắc nhở tới của Newman là ảnh Igor Stravinsky kể trên và Alfried Krupp, kẻ sản-xuất chiến-cụ cho Ðức-Quốc-Xã thời đệ nhị thế-chiến.

Arnold Newman chụp trung-bình từ 20 tới 40 tấm 4"x5" để lấy một tấm.

Sách tham-khảo : "One Mind's Eye : The Portraits and Other Photographs of Arnold Newman", nhà xuất-bản New York Graphic Society, 1974; "Arnold Newman ­ Five Decades", nxb Harcourt Brace Jovanovich, New York, 1986; "Arnold Newman", nxb Taschen, New York, 2000.


3. PHILIPPE HALSMAN.

Halsman nổi tiếng với hơn 100 tấm ảnh bìa báo Life, một kỷ-lục mà chắc không ai phá nổi. Chân-dung "kiểu Halsman" tương-đối chân-phương hơn của hai tác-giả trên, ngoại trừ một số hình cắt, ghép, chụp chồng rất công-phu. Ảnh chân-dung của Halsman sắc nét, đa số có ánh sáng đều, góc cạnh thu hình được chọn lựa cẩn thận. Halsman cũng chụp nhiều nhân-vật nổi tiếng. Halsman dùng máy 9x12 cm và 6x6 cm.

Sách tham-khảo : "Halsman", nhà xuất-bản Int'l Center of Photography, New York, 1979; "Halsman Portraits", nxb McGraw-Hills Book Company, 1983.


PHẦN HAI.

Những nhiếp-ảnh-gia sau đây chụp ảnh chân-dung, nổi tiếng trong lãnh-vực ảnh chân-dung của họ, nhưng dư-luận chung trong ngành nhiếp-ảnh nghệ-thuật không cho rằng đây là ảnh chân-dung nghệ-thuật với ý-nghĩa thực-tế nhất của nó. Quý bạn ảnh tự nhận xét và kết-luận theo cảm-quan của mình.



1. HÀ-DI.

Cụ Hà-Di là nhiếp-ảnh-gia chụp ảnh chân-dung cho rất nhiều nhân-vật chính-trị và quân-sự cao-cấp thời tiền-đệ-nhất và đệ nhất Việt-Nam Cộng-Hòa, trong đó có chân-dung thủ-tướng và sau đó tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm, cựu thủ-tướng Trần-Văn-Hữu, Nguyễn-Văn-Tâm, Nguyễn-Ngọc-Thơ, các cựu tướng/ tá Nguyễn-Văn-Hinh, Lê-Văn-Tỵ, Trần-Văn-Ðôn, Dương-Văn-Minh, Trần-Văn-Chơn, Nguyễn-Văn-Minh, Lê-Quang-Mỹ v.v...

Ảnh chân-dung cụ Hà-Di chụp được coi như thuộc loại chân-dung mỹ-thuật hơn là chân-dung nghệ-thuật, phim và ảnh được sửa rất kỹ (có khi hơi "quá"), nhưng vào thời của cụ (1950-1960) ảnh này có những nét rất đặc-biệt, thể-hiện nét trịnh-trọng, sang cả của chủ-đề... Tại hải-ngoại, vào thời-điểm sau 1975, chúng tôi không tìm được ảnh nào của cụ Hà-Di.


2. NGUYỄN-KỲ.

Chụp ảnh chân-dung trong khoảng thập-niên 60 và 70 tại Sài-Gòn. Chuyên chụp chân-dung mỹ-thuật, đen trắng, thuộc loại "mờ ảo". Ông Nguyễn-Kỳ dùng máy 6x6 cm, tráng phim, làm ảnh bằng hóa-chất dịu, sửa phim rất kỹ. Hiện nay ông mở ảnh-viện Nguyễn-Kỳ tại Tiểu Sài-Gòn, thành phố Westminster, California, dùng máy ảnh digital.


3. TRẦN-CAO-LĨNH.

Tác-giả bộ ảnh chụp 47 văn-thi-sĩ miền Nam trước biến-cố 5-1975, được nhà xuất-bản Sóng xuất-bản lần thứ nhất trong "Những Truyện Ngắn Hay Nhất ", Sài-Gòn, Việt-Nam, 1974; Cơ-sở xuất-bản Ðại-Nam in vào phần đầu tuyển-tập "Những Truyện Ngắn Hay Nhất của Quê-hương Chúng Ta", Glendale, California, 1977.

Sách tham-khảo : "Những chuyện ngắn hay nhất của quê-hương chúng ta", Cơ-sở Ðại-Nam xuất-bản, Glendale, California, 1977.


4. TERRY O'NEIL.

Chân-dung phóng-sự, tài-liệu... dùng máy 35mm và 6x6 cm, đa số chụp bằng ánh sáng thiên-nhiên, dàn-cảnh rất ít hoặc không dàn-cảnh.

Ảnh chân-dung của Terry O'Neil là chân-dung thương-mại và báo-chí, chỉ hơi "đá" chút tính cách chân-dung nghệ-thuật.

Sách tham-khảo : "Legends", nhà xuất-bản Viking Penguin, Inc., New York, 1985.


5. Lord SNOWDON.

Chân-dung tài-liệu, thương-mại, với một số ít chân-dung nghệ-thuật. Dùng máy 35mm và 6x6 cm, đa số chụp theo ánh sáng thiên-nhiên, lựa chọn góc cạnh kỹ.

Sách tham-khảo : "A Photographic Autobiography ­ Snowdon", nhà xuất-bản Times Books, New York, 1979; "Snowdon Sittings", nxb Harper & Row, New York, 1983.


6. RICHARD AVEDON.

Chân-dung quảng-cáo hoặc tài-liệu. Dùng máy từ 35mm tới 8"x10". Có nhiều ý-kiến độc-đáo, táo-bạo. Ảnh chân-dung "loại Avedon" có đặc-điểm là chụp già tráng non, thường là hậu-cảnh trắng; dù là ảnh tài-liệu, cũng vẫn bị ảnh-hưởng của ảnh quảng-cáo. Hơi khó xắp loại.

Sách tham-khảo : "Portraits", nhà xuất-bản The Noonday Press/ Farrow, Strauss & Giroux, New York, 1976; "In the American West", nxb Harry N. Abrams, Inc., New York, 1985.


7. FRANCESCO SCAVULLO.

Chân-dung quảng-cáo, nửa phần thương-mại, nửa phần nghệ-thuật. Dùng máy 6x6 cm, ánh sáng studio, đều, nhẹ, chuẩn-bị kỹ-lưỡng từ trang-điểm, y-phục đến ánh sáng, hậu-cảnh.

Sách tham-khảo : "Scavullo on Beauty", nhà xuất-bản Random House, 1976; "Scavullo Men", nxb Random House, 1977.


 

 

 

 


8. DAVID HAMILTON.

Chuyên chụp ảnh khỏa-thân mờ ảo của những thiếu-nữ "chanh cốm". Ông cũng chân-dung trữ-tình, mờ ảo, ánh sáng cửa sổ dịu, nhẹ; dùng máy 35mm.

Sách tham-khảo :



9. GARY BERNSTEIN.

Chân-dung thương-mại, quảng-cáo. Chuyên dùng máy Nikon 35mm, nghiên-cứu góc cạnh kỹ, ánh sáng đèn flash, dùng phim slide. Trước khi chụp, người mẫu nam hoặc nữ cũng đều được chuyên-viên trang-điểm sửa soạn kỹ-lưỡng.

Ảnh chân-dung của Gary Bernstein là chân-dung thương-mại, thỉnh thoảng có tấm hơi "đá" chút tính cách chân-dung nghệ-thuật.

Sách tham-khảo : "Pro Techniques of Beauty & Glamour Photography", nhà xuất-bản HP Books, Inc., 1985.

 

Comments